Kỹ thuật sản xuất giống cá rô đồng

(Thủy sản Việt Nam) - Nuôi cá rô đồng thâm canh mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, được thị trường ưa chuộng và có giá bán tốt. Trong đó, khâu sản xuất giống đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp con giống chất lượng cho toàn vụ nuôi.


Cá bố mẹ khỏe, không dị tật, dị hình  Ảnh: IE 

Ao nuôi vỗ cá bố mẹ

Ao có diện tích từ 50 - 300 m2; có thể nuôi vỗ trong bể xi măng, nhưng ở diện tích quá nhỏ số lượng cá nuôi không nhiều, hiệu quả kinh tế không cao, ao quá lớn khi đánh bắt cá cho đẻ thu không hết cá thành thục gây lãng phí. Ao phải chủ động cấp thoát nước; quanh bờ ao có lưới chắn cao cách mặt đất 0,2 - 0,3 m giữ không cho cá ra ngoài. Ao phải được cải tạo trước khi nuôi vỗ: bơm cạn nước, bắt hết cá tạp, lấp hang mọi, nạo vét bùn đáy ao nhưng còn chừa lại lớp bùn dày 15 - 20 cm, vệ sinh sạch cây cỏ quanh bờ ao, bón vôi 7 - 10 kg/100 m2. Sau khi phơi ao 3 - 5 ngày tiến hành lấy nước vào, nước phải lọc qua lớp, sau 3 ngày có thể tiến hành thả cá nuôi vỗ.

Chăm sóc cá bố mẹ

Chọn cá bố mẹ có trọng lượng 50 - 100 g/con, khỏe, không dị tật, dị hình. Cá thả nuôi theo tỷ lệ 1 cá đực: 1 cá cái. Cá đực, cái nuôi chung và được nuôi với mật độ 1 kg/m2. Sau 3 tháng nuôi vỗ, có thể tiến hành cho cá sinh sản được.

 Thức ăn: Cho cá ăn với tỷ lệ cám 50% + bột cá 50%, có thể thay bột cá bằng cá tươi xay nhuyễn hay cá phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản. Cho ăn 5 - 7% trọng lượng đàn cá/ngày. Cách cho ăn: Thức ăn được kết dính bằng bột gòn theo tỷ lệ 10 kg thức ăn trộn với 50 g bột gòn, cho nước vào và vò thành viên đặt trong sàng ăn. Sàng ăn được đặt cố định quanh bờ ao, khoảng cách giữa hai sàng ăn là 7 - 10 m. Hoặc có thể cho cá ăn thức ăn viên có độ đạm 35%. Cho ăn 2 lần/ngày, sáng sớm và chiều mát.

Định kỳ 7 - 10 ngày thay 1/2 lượng nước trong ao để làm sạch môi trường nước cho cá.

Cho cá đẻ

Chọn cá bố mẹ cho đẻ dựa vào các dấu hiệu sau:

Cá đực: Mình thon dài, dùng tay vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục có sẹ màu trắng đặc quánh chảy ra là cá đủ tiêu chuẩn cho sinh sản, nếu sẹ chảy ra lẫn nước loãng hoặc không có sẹ chảy ra là cá không đủ tiêu chuẩn cho đẻ.

Cá cái: Bụng cá to nhô ra hai bên hông của cá, khi dùng tay vuốt nhẹ phần bụng có cảm giác mềm đều và lỗ sinh dục của cá có màu hồng.

Sau khi chọn xong, đưa cá vào bể hoặc thau nước sạch cho cá khỏe 2 - 3 giờ trước khi tiêm kích dục tố cho cá đẻ.

Kích dục tố: Loại kích dục tố sử dụng phổ biến và có tác dụng gây rụng trứng cá là HCG (Human Chorionic Gonadotropin) và LHRHa + Dom (Lutenizing Hormon Releasing Hormon Analog + Domperidone)

Liều lượng tiêm: Cá cái: HCG tiêm 3.000 - 4.000 UI/kg; LHRHa 80 - 100 mg/kg; Cá đực: liều tiêm cá đực bằng 1/2 liều tiêm cá cái; Vị trí tiêm: tiêm vào phần xoang cơ ở gốc vi ngực hoặc phần cơ ở gốc vi lưng. Tiêm một liều. Tùy thuộc vào việc chọn thời điểm cho cá đẻ để chọn thời điểm tiêm. Nếu muốn cho cá đẻ vào ban ngày, tiêm vào 6 - 7 giờ sáng; cho cá đẻ vào ban đêm, tiêm kích dục tố vào 18 - 20 giờ.

Bể đẻ: Có thể cho cá đẻ trên bể xi măng có diện tích 1 - 2 m2, chiều sâu mức nước 0,2 - 0,5 m, hoặc cho đẻ trong thau có thể tích 20 lít. Cho cá đẻ phải đặt nơi yên tĩnh, thoáng mát và có mái che nếu cho cá đẻ vào ban ngày. Sau khi tiêm kích dục tố xong thả cá vào bể hoặc thau đã vệ sinh và cho nước sạch vào, có thể bố trí cho đẻ với nhiều cặp cá bố mẹ trên cùng một bể xi măng hoặc bố trí riêng từng cặp trong thau. Tỷ lệ 1 cá đực cho 1 cá cái, trường hợp cá đực nhiều có thể bố trí 3 cá đực cho 2 cá cái, cá đực nhiều rất tốt cho sự thụ tinh. Có thể thả chung 3 - 4 kg/m3 nước hoặc cho 1 - 2 cặp cá vào trong một thau.

Khi thả cá vào bể đẻ nếu sau 2 - 3 giờ cá rượt đuổi nhau, mặt nước gợn sóng là dấu hiệu cá sẽ đẻ, lúc này cần theo dõi cá nhảy ra ngoài do những con chưa sẵn sàng tham gia sinh sản phải bắt thả trở lại; ngược lại cá không rượt đuổi nằm im một chỗ, đây là dấu hiệu cá sẽ không đẻ. Cá sẽ đẻ sau khi tiêm kích dục tố 8 - 10 giờ ở nhiệt độ 26 - 280C. Khi thấy cá không còn rượt đuổi bắt cặp, cá nằm im hoặc bơi phân tán, lúc này tiến hành thu trứng chuyển đi ấp.

Ấp trứng

Bể ấp: Có thể dùng bể xi măng hoặc thau cho cá đẻ để ấp trứng. Dụng cụ ấp trứng phải vệ sinh sạch, đặt nơi thoáng mát để dễ chăm sóc và quản lý. Cá sinh sản xong, tiến hành dùng vợt bằng lưới mùng vớt trứng chuyển qua thau hoặc bể khác có nước sạch để ấp. Nếu dùng bể, thau vừa cho cá sinh sản xong để ấp, phải chuyển trứng và cá bố mẹ sang nơi khác, vệ sinh sạch cho nước mới vào và cho trứng vào ấp. Trường hợp không có phương tiện dự phòng để chuyển trứng đi, sau khi chuyển cá bố mẹ về ao nuôi vỗ, có thể thay 2/3 thể tích nước cũ và tiến hành ấp trứng. Hình thức này trứng bị hao hụt do việc di chuyển cá bố mẹ đi sẽ làm bể trứng và điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo. Sử dụng nước sông hoặc nước máy đều phải để lắng sau 24 giờ vì nếu sử dụng trực tiếp nước sông phù sa sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của phôi, nước máy có chất sát trùng làm chết phôi.

Mật độ ấp: 3.000 trứng/lít nước trong điều kiện nước tĩnh. Hoặc 6.000 trứng/lít nước có sục khí.

Chăm sóc trứng: Trong suốt quá trình ấp trứng không thay nước. Nếu trường hợp ấp không có sục khí mà tỷ lệ trứng không thụ tinh (trứng có màu trắng đục) cao có thể làm nhiễm bẩn môi trường do trứng ung, trường hợp này xảy ra thay 1/2 lượng nước, ngược lại nếu có sục khí không cần thay nước. Trong điều kiện nhiệt độ 26,5 - 280C, sau 17 giờ 30 phút cá sẽ nở, có thể chuyển cá đi ương sau 3 ngày cá nở.

Khoa Thủy sản sưu tầm