ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY THẾ BỘT CÁ BẰNG BỘT NẤM MEN TRONG SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO CÁ RÔ PHI OREOCHROMIS NILOTICUS

Trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) công nghiệp, bột cá được coi là nguồn protein lý tưởng nhất trong sản xuất thức ăn thủy sản, nhưng chúng khan hiếm và có giá thành cao (Cho & Kim, 2011). Những nguồn protein được sử dụng để thay thế cho bột cá có thể kể đến như nguồn protein từ thực vật, nguồn protein từ phụ phẩm động vật, côn trùng,  các nguồn đạm đơn bào… Bột nấm men thuộc về nguồn đạm đơn bào đang được nghiên cứu để đưa vào sản xuất thay thế bột cá trong sản xuất thức ăn thủy sản. Đạm đơn bào nói chung và sinh khối tế bào nấm men nói riêng đang được hy vọng có thể trở thành nguồn thức ăn chăn nuôi tiềm năng trong tương lai gần. Nghiên cứu của  Hansen và cộng sự năm 2019 thử nghiệm trên cá hồi cho kết quả cá sử dụng thức ăn chứa bột đậu nành có dấu hiệu bị viêm ruột trong khi cá sử dụng thức ăn chứa bột cá hoặc đạm đơn bào từ C. useis cho hiệu quả tang trưởng cao và không có ảnh hưởng tới đường ruột cá. Một số nghiên cứu bước đầu cũng cho thấy đạm đơn bào có khả năng tiêu hóa tốt, có chứa nhiều hợp chất có lợi cho sức khỏe động vật thủy sản như nhóm các vitamin, beta glucan… Hơn nữa sản xuất protein đơn bảo không tốn nhiều diện tích hay phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ như thực vật, có tốc độ nhân sinh khối nhanh và tận dụng được các nguồn phế phụ phẩm từ ngành sản xuất khác hay khí thải CO2 từ các nhà máy. Vì những lý do trên đề tài “Nghiên cứu thay thế bột cá bằng bột nấm men trong sản xuất thức ăn cho cá rô phi Oreochromis niloticus đã được tiến hành.

Kết quả thí nghiệm thu được trên cơ sở phân tích các số liệu về tỷ lệ sống, tăng trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn của 5 nghiệm thức thí nghiệm có sửa dụng 5 loại thức ăn khác nhau: TA0, TA25, TA50, TA75, TA100 (trong đó protein bột cá được thay thế bằng protein bột nấm men ở các tỉ lệ protein 0, 25, 50, 75 và 100%)

Tỉ lệ sống của cá rô phi O. niloticus trong thí nghiệm đều cao trên 94%. Cá sử dụng thức ăn có thành phần 100% bột cá (TA0) có tỉ lệ sống 97,22%, cá sử dụng thức ăn có 75% bột nấm men thay thế bột cá cho tỉ lệ sống 94,44%. Cá rô phi tại các bể nghiệm thức chết chủ yếu khi mới bắt đầu thí nghiệm, do đó có thể thấy cá chết không phải vì ảnh hưởng bởi thức ăn thí nghiệm và có thể do thời gian thuần hóa trước khi tiến hành thí nghiệm chưa đủ. Cá ở các nghiệm thức thí nghiệm còn lại có tỉ lệ sống đạt 100%. Không có  sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ sống của cá ở tất cả các nghiệm thức thí nghiệm (P >0,05). Như vậy, khi thay thế bột cá bằng bột nấm men trong thức ăn không làm ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của cá rô phi, kể cả khi thay thế hoàn toàn 100%. (Hình 1)

Hình 1. Tỉ lệ sống của cá rô phi O. niloticus khi sử dụng thức ăn được thay thế protein từ bột cá bằng protein từ nấm men ở các tỉ lệ khác nhau

            Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi ở các nghiệm thức sử dụng công thức thức ăn có tỉ lệ thay thế bột cá bằng bột nấm men khác nhau  dduwwocj thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1. Tăng trưởng của cá rô phi O.niloticus khi sử dụng thức ăn có bột cá được thay thế bằng bột nấm men ở các tỉ lệ khác nhau

Nghiệm thức

TA0

TA25

TA50

TA75

TA100

Wđ (g/con)

226,69 ± 2,72a

226,76 ± 0,76a

223,9 ± 2,43a

225,19 ± 1.86a

224,76 ± 1,74a

Wc (g/con)

363,93 ± 5,55a

359,92 ±3,26a

351,17 ± 5,76ab

333,92 ± 3,97b

312,63 ± 3,17c

WG (g/con)

137,23 ± 5,82a

133,16 ± 3,68a

127,27 ± 5,15ab

108,73 ± 4,73b

87,87 ± 1,43c

SRG (%/con/ngày)

0,79 ± 0,03a

0,77 ± 0,02a

0,75 ± 0,03ab

0,66 ± 0,03b

0,55 ± 0,004c

DWG (g/con/ngày)

2,29 ± 0,1a

2,22 ± 0,06a

2,12 ± 0,09ab

1,81 ± 0,08b

1,46 ± 0,02c

Wđ: Khối lượng trung bình cá khi bắt đầu thí nghiệm (g/con). Wc: Khối lượng trung bình cá khi kết thúc thí nghiệm (g/con). WG: Tăng trọng của cá sau thời gian thí nghiệm (g/con). DWG: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ con/ ngày). SGR: Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ ngày)

Với khối lượng cá khi bắt đầu thí nghiệm (Wđ) là như nhau, khi kết thúc thí nghiệm Khối lượng trung bình cá thí nghiệm (Wc) ở nghiệm thức đối chứng TA0 là cao nhất (363,93 g/con) nhưng không có sự khác biệt thống kê so với các nghiệm thức TA25 và TA50. Điều này chứng tỏ bột nấm men có thể thay thế bột cá đến 50% mà không làm ảnh hưởng đến kích cỡ cá khi thu hoạch. Kể từ tỉ lệ thay thế bột nấm men 75% (TA75) và 100% (TA100), kích cỡ cá khi thu hoạch Wc (lần lượt đạt 333,92 và 312,63 g/con) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (P<0,05). Khối lượng cá tăng lên WG ở nghiệm thức đối chứng TA0 là cao nhất (137,23 g/con) nhưng không có sự khác biệt thống kê so với nghiệm thức TA25 và TA50. Kể từ tỉ lệ thay thế bột nấm men 75% (TA75) và 100% (TA100), tăng trọng của cá WG (lần lượt đạt 108,73 và 87,87 g/con) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (P<0,05). Tốc độ tăng trưởng tương đối SGR ở nghiệm thức đối chứng TA0 là cao nhất (0,79%/con/ngày) nhưng không có sự khác biệt thống kê so với các nghiệm thức TA25 (0,77%/con/ngày) và TA50 (0,75%/con/ngày). Nhưng khi  tỉ lệ thay thế bột nấm men 75% (TA75) và 100% (TA100), tốc độ tăng trưởng tương đối (lần lượt đạt 0,66 và 0,55 %/con/ngày) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (P<0,05). Nghiệm thức thay thế 100% bột cá bằng bột nấm men có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê với tất cả các nghiệm thức còn lại.

Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối DWG ở nghiệm thức đối chứng TA0 là cao nhất (2,29 g/con/ngày) nhưng không có sự khác biệt thống kê so với các nghiệm thức TA25 (0,77%/con/ngày) và TA50 (0,75%/con/ngày). Nhưng khi  tỉ lệ thay thế bột nấm men 75% (TA75) và 100% (TA100), tốc độ tăng trưởng tương đối (lần lượt đạt 0,66 và 0,55 %/con/ngày) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (P<0,05). Nghiệm thức thay thế 100% bột cá bằng bột nấm men có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê với tất cả các nghiệm thức còn lại.

Hệ số chuyển hóa thức ăn FCR của cá rô phi trong nghiên cứu này dao động trong khoảng 1,56 đến 2,02. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về FCR ở cá sử dụng các thức ăn TA0, TA25, TA50 (P>0,05), chứng tỏ việc thay thế bột cá bằng bột nấm men đến tỉ lệ 50% không làm ảnh hưởng đến hệ số chuyển hóa thức ăn. Ở tỉ lệ thay thế bột cá bằng bột nấm men 75% (TA75) và 100% (TA100), hệ số chuyển hóa thức ăn cao hơn có ý nghĩa thống kê (P>0,05) so với đối chứng TA0. Như vậy, bột nấm men có thể sử dụng để thay thế bột cá đến 50% mà không làm ảnh hưởng đến hệ số chuyển hóa thức ăn FCR. Số liệu về kết quả chuyển hóa thức ăn của cá rô phi sử dụng thức ăn có tỉ lệ bột nấm men thay thế bột cá khác nhau được trình bày trong bảng 2.

Bảng 2. Chuyển hóa thức ăn ở cá rô phi O.niloticus khi sử dụng thức ăn có tỉ lệ thay thế protein bột cá bằng protein từ nấm men ở các tỉ lệ khác nhau

Nghiệm thức

TA0

TA25

TA50

TA75

TA100

 

Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)

1,56 ± 0,06c

1,59 ± 0,06c

1,69 ± 0,02bc

1,91 ± 0,03ab

2,02 ± 0,07a

Giá trị thể hiện trong bảng là giá trị trung bình ± sai số chuẩn SE (Standard error) của 3 lần lặp. Các giá trị trong cùng hàng có mang chữ khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ( P<0,05).

Từ những kết quả thu được, nhóm nghiên cứu rút ra một số kết luận:

- Tỉ lệ sống của cá rô phi không bị ảnh hưởng bởi việc thay thế bột cá bằng bột nấm men.

- Khi thay thế 75% hay 100% bột cá bằng bột nấm men trong thức ăn làm giảm tăng trưởng , giảm hiệu quả sử dụng protein, tăng hệ số chuyển đổi thức ăn của cá rô phi.

- Có thể thay thế 50% bột cá bằng bột nấm men mà không làm ảnh hưởng đến tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn và hiệu quả sử dụng protein thức ăn của cá rô phi.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI